Thứ Năm, 1 tháng 5, 2008
Giới thiệu về DakLak(2)
| Tài nguyên thiên nhiên | |
| 1. Tài nguyên đất Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Daklak, đó là tài nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen. Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi. - Nhóm đất phù sa (Fuvisols): Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất..
Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lăk, Krông Ana và Krông Bông. - Nhóm đất xám (Acrisols): Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Daklak, phân bố ở hầu hết các huyện. - Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan). Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Daklak. 2. Tài nguyên nước - Nguồn nước mặt Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Daklak một mạng lưới sông hồ khá dày đặc. Vì vậy, nhiều vùng trong tỉnh có khả năng khai thác nguồn nước mặt thuận lợi để phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là các địa bàn phân bố dọc theo hai bên sông Krông Ana thuộc các huyện:Krông Ana, Krông Pắc, Lăk,.... - Nguồn nước ngầm: Tập trung chủ yếu trong các thành tạo BaZan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính: Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.
3. Tài nguyên rừng:
Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Dak Lak là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Độ che phủ rừng đạt 46,62% (số liệu tính đến ngày 01/01/2004). Rừng Dak Lak được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Dak Lak phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, các tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Dak lak có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yôk Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin... có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh.
4. Tài nguyên khoáng sản: Dak lak không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm. Như Sét cao lanh (ở M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng... phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh. Theo Daklak.gov.vn |
Giới thiệu về DakLak(2)
| Tài nguyên thiên nhiên | |
| 1. Tài nguyên đất Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Daklak, đó là tài nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen. Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi. - Nhóm đất phù sa (Fuvisols): Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất..
Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lăk, Krông Ana và Krông Bông. - Nhóm đất xám (Acrisols): Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Daklak, phân bố ở hầu hết các huyện. - Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan). Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Daklak. 2. Tài nguyên nước - Nguồn nước mặt Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Daklak một mạng lưới sông hồ khá dày đặc. Vì vậy, nhiều vùng trong tỉnh có khả năng khai thác nguồn nước mặt thuận lợi để phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là các địa bàn phân bố dọc theo hai bên sông Krông Ana thuộc các huyện:Krông Ana, Krông Pắc, Lăk,.... - Nguồn nước ngầm: Tập trung chủ yếu trong các thành tạo BaZan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính: Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.
3. Tài nguyên rừng:
Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Dak Lak là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Độ che phủ rừng đạt 46,62% (số liệu tính đến ngày 01/01/2004). Rừng Dak Lak được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Dak Lak phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, các tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Dak lak có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yôk Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin... có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh.
4. Tài nguyên khoáng sản: Dak lak không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm. Như Sét cao lanh (ở M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng... phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh. Theo Daklak.gov.vn |
Giới thiệu về DakLak(1)
Điều kiện tự nhiên![]() | ||
|
Giới thiệu về DakLak(1)
Điều kiện tự nhiên![]() | ||
|
Thứ Tư, 30 tháng 4, 2008
Chợ mới Buôn Ma Thuột
Buôn Ma Thuột xôn xao chợ mới
TP- Một dự án xây chợ mới văn minh hiện đại đang triển khai, dự kiến khánh thành nhân kỷ niệm 35 năm giải phóng Buôn Ma Thuột.
| Phối cảnh chợ mới BMT |
Buôn Ma Thuột được Chính phủ công nhận là đô thị loại II từ đầu năm 2005.
Không xứng tầm với đô thị ngày càng khang trang đẹp đẽ này, khu chợ trung tâm thành phố xây dựng từ hơn 20 năm trước đang không ngừng xuống cấp lạc hậu, cũ kỹ. Chớm mưa sình lầy nhớp nháp, mùa khô ngột ngạt bụi mù. Lối đi bị lấn chiếm chật chội, bể nước cứu hỏa khô khốc, bao lời cảnh báo phòng chống cháy nổ cũng bằng thừa!
Nhu cầu xây chợ mới chậm được đáp ứng do thiếu nguồn ngân sách và chưa có phương thức hữu hiệu hợp lý để triển khai. Từ năm 2004, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ra thông báo giao cho UBND thành phố Buôn Ma Thuột (TP BMT) làm chủ đầu tư chợ trung tâm theo hình thức BT ( xây dựng- chuyển giao).
Theo đó, UBND TP BMT cho thi tuyển kiến trúc, lập phương án đền bù, tiến hành kêu gọi đầu tư bằng cách gửi thư mời đến một số đối tác, lập tờ trình số 168 “ tiến cử” đơn vị duy nhất là Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và kinh doanh chợ BMT, đề nghị lãnh đạo tỉnh cho phép Cty vừa được thành lập này được xây dựng chợ BMT theo phương thức BO (đầu tư-kinh doanh). Ngày 30/10/2006, Chủ tịch UBND tỉnh có công văn đồng ý !
Như vậy, quá trình chuẩn bị cho việc xây chợ đã có một khoảng thời gian khá dài để triển khai. Tuy nhiên, để mọi việc suôn sẻ thì chính quyền phải tạo được sự đồng thuận về phương án đền bù, tái định cư từ các hộ tiểu thương có quyền lợi liên quan.
Nhiều cuộc họp lớn nhỏ đã được tổ chức nhưng sự thiếu rõ ràng nhất quán trong công tác điều hành đã làm nảy sinh phản ứng, bất bình.
Từ giữa năm 2007 đến nay, nhiều hộ trên tổng số 118 hộ dân ở chợ đã liên tục khiếu nại đến báo Tiền phong về cách làm “thiếu công bằng, minh bạch” của chính quyền địa phương. Nội dung chính xoay quanh những vấn đề sau:
1. Hàng năm tỉnh đều ban hành khung giá đất, Ban giải tỏa đền bù không sử dụng khung giá này mà tham mưu ra bảng giá mới cao hơn, đòi đền đất cũ giá nào thì tính đất mới giá đó.
Hàng trăm hộ ở vị trí cũ diện tích bình quân 20-30 m2, sắp tới chuyển sang lô tái định cư diện tích gấp 3-5 lần, nhiều lô áp giá 40 triệu đồng/m2, tức nhận đền bù có mấy trăm triệu đồng mà nộp tiền đất mới đến mấy tỉ đồng, tiền đâu mà đóng?
2. Cách áp giá đền bù chưa công bằng thoả đáng. Có đoạn phố nhiều năm qua người dân khổ sở vì chính quyền không giải tỏa nổi nạn họp chợ tràn lan trước nhà họ, nay lại tiếp tục bị định giá thấp hơn đoạn phố thông thoáng.
3. Trong tổng số 118 hộ phải di dời, có một số hộ không được bố trí tái định cư chỉ vì họ không đăng ký hộ khẩu, dù nơi ở cũ của họ được Nhà nước công nhận chủ quyền sở hữu và họ vẫn thực hiện đủ mọi nghĩa vụ thuế suốt hàng chục năm qua.
4. Bán đất thì tính sát giá thị trường, nhưng đền bù vật kiến trúc thì lại tính theo mức ban hành cũ có 1,1 triệu/1m2 xây dựng, trong khi giá xây dựng mới đã gấp 2-3 lần. Người dân nhận tiền đó làm sao đủ tạo dựng nhà mới?
Kỹ sư Trần Văn Tam - giám đốc CTCPĐTXD&KD chợ BMT cho biết: Chúng tôi không liên quan gì đến việc đền bù giải tỏa.
Giữa năm 2008, sau khi nhận được toàn bộ diện tích 2 khu chợ B, C đã dọn sạch mặt bằng, chúng tôi mới triển khai xây chợ mới theo quy cách 2 khối nhà cấp I, 5 tầng, thiết kế tiện nghi hiện đại và an toàn, dự kiến tổng vốn xây dựng theo thời giá hiện nay khoảng 240 tỷ đồng, phấn đấu đến năm 2010 hoàn tất. Nhận đầu tư công trình này, chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn. May ra từ 12 đến 15 năm sau mới có thể hoàn vốn.
Đại diện báo Tiền phong đặt lại câu hỏi với lãnh đạo TP BMT về những vấn đề trên. Ông Lê Hữu Hiền, Phó Chủ tịch UBND TP xác nhận những điều dân thắc mắc là có cơ sở, tuy nhiên thành phố mới đưa ra ý kiến thăm dò dư luận.
Những gút mắc cần tháo gỡ các bộ phận liên quan sẽ tiếp tục bàn bạc, đồng thời xin ý kiến chỉ đạo của tỉnh rồi mới quyết định.
Dự kiến sang đầu tháng 5/2008 sẽ bắt đầu dời chợ A sang khu chợ tạm để chia lô cho dân nhận đất tái định cư, tự xây dựng theo quy hoạch thành phố đưa ra.
Hoàng Thiên Nga


